Sunday, March 8, 2009

Sử dụng chung máy in trong hệ thống mạng

Chia sẻ máy in trong Mạng

Một trong những công việc cần thiết trong hệ thống mạng là việc sử dụng chung máy in. Với việc sử dụng chung máy in bạn có thể tiết kiệm được rất nhiều chi phí và công tác quản lý máy in cũng được thuận tiện.

Để có thể sử dụng chung máy in, bạn phải có máy in được kết nối với một trong những máy vi tính trong hệ thống mạng và đã được cài đặt chương trình điều khiển (Driver).

Nhấn vào Menu Start (nằm ở góc dưới bên trái của màn hình) sau đó chọn Printers and Faxes.

Trong Printers and Faxes nhấn phải chuột vào máy in nào mà bạn muốn Share, chọn Sharing... trong menu.

Trong Sharing chọn Share this printer, bạn có thể đặt tên lại cho máy in trong phần Share name nếu muốn, nhấn ApplyOk. Bây giờ biểu tượng (Icon) của máy in sẽ có thêm hình một bàn tay, điều này cho biết máy in này đã được cho phép dùng chung trong hệ thống mạng.

Có một số trường hợp khi máy in được Share thì các máy vi tính khác trong mạng sẽ tự động nhận thấy máy in. Nếu không bạn sẽ phải chuyển qua cài đặt các máy vi tính khác trong hệ thống mạng để có thể dùng chung máy in.

Trong Printers and Faxes chọn Add a Printer. Trong Welcome to the Add Printer Wizard chọn Next.

Trong Local or Network Printer Network Printer chọn A network printer or a printer attached to another computer và nhấn Next để tiếp tục.

Trong specify a Printer chọn Browse for a printer và nhấn Next.

Trong Browse for a Printer, tại ô Shared Printers bạn nhấp đúp chuột vào Microsoft Windows Network, nhấp đúp chuột (hoặc nhấn vào dấu +) vào WORKGROUP (lưu ý có một số máy là WORKGROUP, MSHOME hoặc tên khác), nhấp đúp chuột vào tên của máy vi tính có cài máy in và sau cùng là chọn máy in được Share. Nhấn Next để tiếp tục.

Khi xuất hiện bảng Connect to Printer, chọn Yes để tiếp tục.

Trong Print Test Page chọn No và nhấn Next để tiếp tục.

Trong Completing the Add Printer Wizard nhấn Finish để hoàn tất.

Sau khi máy in đã được cài đặt xong sẽ có một biểu tượng (Icon) và tên của máy in mạng nằm trong Printers and Faxes. Từ bây giờ các máy trong mạng có thể in tài liệu trực tiếp từ mỗi máy.

Buaxua.vn


What is CCNA ?

CCNA cho bạn kiến thức cơ bản về mạng máy tính, nó thiên về cấu hình cơ bản các thiết bị như switch, router. Nó phù hợp trong các doanh nghiệp lớn như các ngân hàng, có các site nằm xa nhau, đòi hòi các chính sách bảo mật tốt...hii, tất nhiên CCNA thì chỉ là cái cơ bản thui.
Cái luồng này tôi thấy nếu cứ để thế này thì không mang lại hiệu quả lắm, trong khi nhiều bạn rất muốn tìm hiểu về CCNA. Chi bằng tôi post các cái tui nhặt nhạnh trên mạng về CCNA, anh em thấy cái nào hay cũng post lên đây để anh em cùng tham khảo. Sau đó nếu thắc mắc ở đâu anh em mình trao đổi, các pro giải thích giùm tụi em


Về CCNA, cái đầu tiên phải biết là mô hình 7 lớp OSI, sau đó là TCP/IP bản quyền bài viết này là của anh Liwh (ddth) em nói rõ để tránh vi phạm bản quyền)
CCNA chu' trong dau tiên là phai hiểu Mô hinh OSI 7 lớp, ISO da dua ra chuan nay vào năm 1978 để chuẩn hóa lại cho dễ phát triển và cho phép khả năng kết hợp giữa những dòng sản phẩm khác nhau lại trong 1 mạng.OSI viết tắt từ Open System Inteconnetion. Tên của nó đã cho thấy đây là một mô hình mạng mở, có khả năng kết nối. OSI có 7 lớp từ trên xuống như sau : Application > Presentation > Session > Transport > Network > Data Link > Physical. Mỗi lớp (layer) thừa hưởng các service của lớp ngay bên dưới.
*Application (Layer 7): tạo kết nối giữa các application với nhau giữa các máy tính. VD: Telnet, FTP, HTTP...
*Presentation (Layer 6): dùng để định dạng kiểu của dữ liệu và mã hoá dữ liệu. VD: trong các máy dekstop dùng kiểu ASCII, còn một số máy Mainframe lại sử dụng kiểu EBCDIC (thiệt ra mình cũng không biết cái kiểu này). Hay là các kiểu định dạng hình ảnh GIF, JPEG.
*Session (Layer 5): xác định cách bắt đầu, điều khiển, và kết thúc 1 cuộc nói chuyện (session). Session giúp cho các Application nhận biết được message này đã kết thúc chưa.

Nếu thiên về Cisco Certified, bạn không cần quan tâm đến 3 lớp vừa rồi vì Cisco chỉ bán các sản phẩm của 4 lớp sau này thôi.

*Transport (Layer 4): cho hoặc không cho khả năng sửa lỗi(error recovery), cho phép nhiều application chạy trên cùng một máy dựa vào socket và xếp các packet lại theo một trậ tự nào đó mà application có thể hiểu. VD: TCP, UDP, SPX
*Network (Layer 3): cho phép khả năng phân phát packet giữa các end-user với nhau. Để làm được chuyện này, Network layer xác định một loại địa chỉ luận lí và cách thức xác định đường(route) dựa trên một giao thức ở lớp này. Network layer còn làm nhiệm vụ chia nhỏpacket thành nhữg packet nhỏ hơn để dễ phân phát trên mạng. VD: IP, IPX, AppleTalk
*Data link (layer 2): ở lớp này Cisco chia ra làm 2 lớp nhỏ là Logical Link Control(LLC) layer và sub MAC layer. Data link nói chung quan tâm đến việc frame truyền trong media bằng cách dùng địa chỉ MAC. VD: HDLC, Frame Relay
*Phisical (layer 1): quan tâm đến các vấn đề vật lý của đường truyền như bit, độ dài dây(cable), đầu nối cable, xung điện ....

Việc chia mạng thành từng lớp như vậy để làm gi?
- Chuẩn hoá nên dễ phát triển. Mỗi hãng có thể tập trung sản xuất thiết bị trong một hay vài lớp mà thôi. Tăng hiệu quả và chất lượng.
- Cho phép một môi trường liên kết rộng rãi.
- Giúp dễ dạy và học network. Nếu network khó học thì chắc không ai dám phát triển mạng rồi, vì không ai biết mà.
- Mỗi lớp sử dụng các dịch vụ của các lớp ngay bên dưới.

Tuong tac giua cac lop nhu the nao?
- Theo kieu vật lý thì dữ liệu được đưa từ trên xuống, layer cao xuống layer thấp hơn. Và tới đích thì từ dưới lại đưa lên trên.
- Theo kiểu luận lí thì là ngang cấp (peer-to-peer): do dữ liệu của lớp nào thì chỉ có thể đọc được ở lớp đó mà thôi. Nên người ta đưa ra cách suy nghi thế.



CCNA TUTOR: Encapsulation


--------------------------------------------------------------------------------

Liwh viết tiếp 1 bài về Data encapsulation, để giúp bạn hiểu thêm về OSI reference Model.

Như đã nói ở bài trên, OSI có 7 lớp để dễ dàng phát triển. Vậy dữ liệu truyền trong 7 lớp đó như thế nào?
-Nói chung, dữ liệu khi ở nguồn(source) sẽ đi từ lớp cao xuống lớp thấp(encapsulation). Sau đó được truyền trên đường truyền(media) rồi đến đích cần gửi. Tại đích đến, dữ liệu sẽ lại được đưa ngược từ lớp thấp lên lớp cao(de-encapsulation).
-Data Encapsulation:
+Do chúng ta đang bàn về Cisco Certified, nên đi theo quan điểm của Cisco. Theo Cisco thì ở từng lớp sẽ có một cách gọi dữ liệu riêng, và gọi đó là 1 đơn vị dữ liệu (PDU-Protocol Data Unit) tại lớp đó.
+Dữ liệu do người dùng gửi đi lúc đầu sẽ được chuyển qua 3 lớp Application, Presentation, Transport và sẽ được gọi là DATA. Cisco gom lai do họ không mặn mà lắm về 3 lớp trên này.
+Data sau đó được chuyển xuống lớp Transport, được gắn thêm header và được gọi là SEGMENT. Header ở lớp Transport chủ yếu gồm source port và dest port. Port dùng để chỉ ra 2 host đang dùng loại application nào.
+Segment lại được đưa xuống lớp Network, tiếp tục được gắn thêm header và được gọi là PACKET. Header ở lớp Network chủ yếu là địa chỉ luận lí của source & dest., chỉ ra protocol của lớp Transport. Do dùng service của layer ngay bên dưới nó nên phải biết lớp trên nó dùng gì.
+Packet lại tiếp tục đi xuống lớp Data link, ở đây packet được gắn thêm header & trailer, biến thành FRAME. Do Datalink có 2 lớp nhỏ, nên được gắn 2 lần Header và trailer như sau:
-Ở LLC(chuẩn 802.2): header chủ yếu là source & dest. Service Access Point (SAP). SAP chỉ ra protocol mà lớp Network đang dùng(IP= 06, IPX= E0). Ngày nay do càng nhiều giao thức lớp 3 được ra đời, nên IEEE (tổ chức chuyên lo về điện và điện tử) đã đưa ra tiếp khái niệm Subnetwork Access Protocol (SNAP). SNAP là tương tự như SAP, nhưng cho nhiều số hơn thôi. SNAP có khi SourceSAP và Dest.SAP được gán giá trị AA.
-Ở MAC sublayer (chuẩn 802.3 cho Ethernet, 802.5 cho Token Ring): header chủ yếu là source và dest. MAC address, ngoài ra còn có Preamble để máy tính nhận biết sự bắt đầu của frame, trailer ở đây là Frame Check Sequence (FCS) dùng để kiểm tra lỗi có xảy ra với frame hay không.
+Frame sau đó được gắn thêm header ở lớp Physical, rồi chuyển hoá ra dạng BIT truyền đi. Thật ra header ở đây chỉ là chuỗi bit, xác định xem đang truyền trên loại cable nào mà thôi. Sau đó bit được truyền đến dest.

Đó là quy trình encapsulation của dữ liệu. Các PDU nói ở trên còn có tên gọi khác dễ nhớ hơn nhưng không được khuyến khích cho lắm đó là LxPDU (VD: Packet: L3PDU, Frame: L2PDU)

-Data De-encapsulation: khi được chuyển đến dest. thì PDU được chuyển từ dưới lên, ở lớp nào thì lớp đó sẽ gỡ header (và trailer nếu có) ra và xử lí. Rồi gửi phần ruột bên trong lên lớp trên nó.



CCNA TUTOR: Address


--------------------------------------------------------------------------------

MAC Address: còn gọi là burn-in address. Thuong duoc ghi vao trong ROM hay la Network Interface Card(NIC) ,không thể thay đổi được, và duy nhất trên toàn thế giới (Mặc dù khi cau hinh Router cho IPX, ta co the thay doi duoc MAC address cua interface cho dễ kiểm soát). MAC address có độ dài 6 bytes(48bit)và thường được viết dưới dạng Hex. VD: 0060.978F.4F86 . Trong đó 3 byte đầu gọi là Organizationally Unique Identifier (OUI) do IEEE cấp cho các nhà sản xuất. 3 byte cuối là do nhà sản xuất (vendor) tự ghi vào, và họ phải đảm bảo là không bị trùng lấp. Do 2^24 = 16777216 là rất lớn,IEEE cho rằng không thể có quá nhiều vendor như thế --> mỗi vendor sẽ được một vài số OUI. Như Cisco có khoang 66 OUI (tinh den nam 2001-so lieu lay trong Cisco LAN Switching): 00000C, 00067C, 0006C1 ... 00E0F7, 00E0F9, 00E0FE.
Logical Address: thường có 2 phần, một phần gọi là network address và phần còn lại là node address hay là host address.VD: IP: 192.168.2.1/24 ; IPX: ABCD.0060.978F.4F86; AppleTalk : 1000.220
-IP address: chay duoi nen Windows TCP/IP, dang duoc su dung rong rai, dia chi Internet cung la 1 loai IP address. IP address là chuỗi gồm 32 bit, thường được viết dưới dạng Decimal như sau: 123.26.5.4 .
IP address có đề ra subnet mask để xác định phần nào chỉ Network, Host. VD: Subnet default cua Class A: 255.0.0.0; của Class B là 255.255.0.0; của Class C là 255.255.255.0. Khi đó thuật toán AND sẽ được thực hiện để xác định Network hay Host. Cứ bit nào của subnet mask là 1 thì ứng với vị trí đó là Network Portion.
VD: IP add:123.4.26.5.4; subnet mask: 255.0.0.0 thì network portion là 123 và host là 4.26.5
Có thể xem thêm IP address tại: http://www.diendantinhoc.com/showthr...&threadid=1929
-IPX Address: chạy dưới HDH Novell IPX/SPX (Liwh chưa được làm việc thực tế với mạng IPX). IPX address dài 80bits, gồm 32 bit chỉ network và 48 bit chỉ phần node (48 bit này chính làMAC address) và thường được biểu diễn dưới dạng cơ số 16.
VD: ABCD.0060.978F.4F86 thì ABCD chỉ network portion; còn 0060.978F.4F86 thì chỉ node portion.
-AppleTalk Address: cho loại máy Macintosh, gồm 16 bits network, 8 bits node và được biểu diễn trong hệ cơ số 10. VD: 1000.205. Ngoài ra AppleTalk Phase II (đang được sử dụng) thì còn cho khả năng có nhiềi địa chỉ network trên cùng 1 media. Người ta gọi là cable-range. VD: 100-105 tức là trên 1 segment đó có thể gán các host có giá trị 100.245; 102.5 thì các host vẫn hiểu là trong cùng 1 mạng.
Ngoài ra AppleTalk còn cho phép kiểm soát các dịch vụ bằng cách đưa ra khái niệm Zone. Cái này thì vượt khả năng của Liwh, sorry nghen.


TUTOR: Device


--------------------------------------------------------------------------------

LAN (Local Area Network): là một mạng tốc độ cao, giá rẻ, trong 1 khu vực nhỏ (lên đến vài ngàn mét) hay có thể trong 1 tòa nhà.
WAN (Wide Area Network): là mạng được trải rộng trong một phạm vi địa lí rộng lớn. WAN thì tốc độ chậm hơn LAN, và giá cả thì tất nhiên sẽ mắc hơn.

Topology: xác định cấu trúc của một mạng. Có hai loại:
*Topology vật lý: là cách mắc thực tế theo dây. (Tất nhiên không phải là cách đi dây trong toà nhà rồi).
--Bus: có một backbone ở giữa, và tất cả máy thuộc mạng con đó sẽ kết nối thẳng vào backbone.
--Star: có một vị trí trung tâm gọi là điểm tập trung, và tất cả cable được nối tập trung vào đây. Thường điểm đó là hub hoặc switch.
--Extended Star: cũng giống như Star, nhưng có nhiều điểm tập trung hơn. Thường dùng để mở rộng độ lớn của mạng.
--Mesh: thường dùng trong các mạng quan trọng, không muốn xảy ra down mạng do đứt dây hay nghẽn mạng. Mỗi host trong mesh đều có khả năng đều nối đến tất cả các điểm còn lại.
*Topology luận lý: thể hiện cách mà các máy, thiết bị mạng khác kết nối lại với nhau.
Các bạn xem hình Liwh post lên sẽ thấy dễ hiểu hơn.

Thiết bị mạng: ở đây chúng ta chỉ đề cập đến Repeater, Hub, Bridge, Switch và Router thôi.
--Repeater: Thiết bị dùng để khuếch đại lại signal như lúc ban đầu nó được gửi đi. Do khi signal được truyền đi trên media, chúng sẽ bị hao tổn(attenuation) làm cho các thiết bị mạng không còn phân biệt được bit nào là 0,1 nữa. Dẫn đến dữ liệu sẽ không được xử lí, hay xử lí sai lạc. Nên ta dùng Repeater.
--Hub: là một repeater đa cổng(port) (4,8 hay thậm chí 24 port). Hub được dùng như một điểm tập trung, và tăng khả năng an toàn của mạng. Khi một cable nối đến 1 port bị đứt sẽ không làm down toàn bộ mạng.
Repeater và Hub được xem là thiết bị ở lớp Physical (Layer 1)
--Bridge: dùng để lọc traffic trên Lan dựa trên địa chỉ lớp 2 (MAC addres). Bridge xem traffic nào cần chuyển đi ra mạng ngoài, traffic nào không.
Mỗi interface của switch có bảng gọi là table-MAC-address, chứa tất cả những MAC address của các thiết bị nằm trong segment của port đó. Khi có frame đi qua, bridge sẽ đọc MAC của frame đó, nếu có trong bảng MAC của port mà frame đi vào thì bridge sẽ drop frame đó. Còn nếu MAC có trong bảng MAC của một port nào khác, bridge sẽ chuyển frame đó ra port đó mà thôi. Nếu gặp một frame chứa MAC mà bridge không chứa hoặc là một địa chỉ Broadcast thì Bridge sẽ chuyển frame ra tất cả các port còn lại.
--Switch: là một bridge đa cổng, và có thêm nhiều tính năng vượt trội. Như brdige thì dùng software để switch frame đi thì switch dùng hardware, chuyển frame nhanh hơn. Ngoài ra Switch còn cho khả năng full-duplex, kết hợp vớiRouter tạo VLAN, và Cisco còn đưa ra các switch layer 3 để chuyển packet sao nhanh nhất.
Trừ switch layer 3 ở lớp 3, còn khi nói đến switch và bridge thì hoạt động ở lớp 2.
--Router: là một thiết bị có hai chức năng. Một là dẫn đường(routing): dò logical address với các giá trị trong bảng routing table (bảng chứa đường dẫn đến các mạng). Và hai là chuyển packet sang interface tương ứng để chuyển đi gọi là switching. Router làm việc ở layer 3.

Collision, broadcast domain
--Collision domain: (trong Ethernet) là vùng mà các frame có khả năng đụng độ nhau trên media.
Repaeter và hub không ngăn được collision. Bridge, switch, router thì mỗi subnet của port | interface là từng collision domain riêng biệt.
--Broadcast domain: là tập hợp các thiết bị mà nhận được broadcast frame được gửi đi từ bất kì các thiết bị nào trong tập hợp đó.
Chỉ có Router, Switch layer 3 là ngăn chặn broadcast. Các thiết bị như switch, bridge, hub, repeater thì không.
--Broadcast Address: là địa chỉ dùng để gửi đi đến tất cả các thiết bị. Địa chỉ broadcast thường có giá trị toàn những bit 1.
VD: FFFF.FFFF.FFFF
192.168.3.255 (chỉ toàn bộ thiết bị trong mạng 192.168.3.0)
--multicast Address: là địa chỉ dùng để gửi đến 1 tập hợp các thiết bị nào đó theo một mục đích, dich vụ nhất định.
VD: 224.0.0.9 là địa chỉ multicast cho các thiết bị xài giao thức tìm đường RIP.


CCNA TUTOR: ARP&RARP


--------------------------------------------------------------------------------

Như đã nói ở các bài trên, có hai loại address đó là MAC và logical address(cho là IP address hen). Vậy tại sao người ta phải dùng đến 2 loại address, mặc dù địa chỉ nào cũng unique hết ?
Thật ra phải cần dùng 2 địa chỉ. Vì một địa chỉ xác định điểm đầu và cuối của việc truyền thông, đó là IP address. Còn một cái nữa là MAC thì để cho phép truyền thông trên media. Mỗi cái thì chỉ đảm trách được 1 nhiệm vụ của nó mà thôi.
VD: khi một frame được gửi từ host A đi đến host B nằm trong 1 broadcast domain khác. Thì lúc đầu phần layer 3 của frame sẽ chứa source & dest IP address của 2 host đó. Nhưng MAC thì là của host A, rồi dest MAC là của router làm default gateway. Khi Router chuyển packet đó sang một broadcast domain cần chuyển (cho rằng Router có 1 interface khác cùng mạng với host B), đóng thành frame, thì lúc này frame có source MAC là của Router và dest MAC của host B. Còn source và dest IP address thì vẫn là A & B.

Vậy dùng cách nào để lấy được cả hai MAC và IP address?
--Thứ nhất là ARP(Address Resolution Protocol): là một phương thức dùng để tìm MAC của 1 host bằng IP.
VD: Khi máy A muốn send dữ liệu đến máy B, thì phải cần có MAC và IP của máy B. Nhưng thực tình là mới đầu máy A chỉ biết được IP của B thôi, vậy máy A phải send broadcast ARP request đến tất cả các máy.
ARP request gồm có IP&MAC của source, IP của dest., dest MAC có giá trị 0000.0000.0000 và 1 field dùng để nói đây là ARP request (field Operation, 2 bytes).
Nếu B thuộc chung broadcast domain thì B sẽ nhận ra dest IP là của mình và tạo một ARP reply có source MAC&IP của B, dest MAC&IP của A.
Nếu B khác broadcast domain thì không nhận packet đó được. Lúc đó Router(thường là default gateway) sẽ đọc dest IP, và nhận ra packet thuộc mạng khác, Router sẽ sửa source MAC và gửi đi đến B (nếu qua nhiều router cũng tương tự như thế). B cũng sẽ send ARP reply về source IP.
--Thứ hai là RARP(Reverse Address Resolution Protocol): dùng MAC tìm IP.
Thường thì sẽ có 1 RARP server, trong đó có ~ MAC nào ứng với 1 khoản IP nào. RARP server sẽ trả lời lại RARP reply cho host biết.
RARP khác với DHCP, DHCP tự động gán IP address cho một máy, chỉ cần nó nằm trong subnet đó thôi. Còn RARP thì phải đúng MAC thì mới có IP.

Proxy ARP: thực ra trong bài Liwh nói ở trên, nếu máy tính không cofig default gateway (và router có cho khả năng Proxy-ARP) thì router gần nhất sẽ giả bộ như MAC address của nó chính là MAC của host B. Như vậy A sẽ gửi đến router, rồi router có gửi đi được hay không là chuyện của nó.




Nói về Routing-Routing Protocol .( bài này của bạn yuna_admier)
trước hết hảy xét đến các loại routing-protocol
Routing được phân làm 3 dạng chính là Interior - Exterior -system . Chúng ta chỉ đề cập đến 2 loại là in-exterior mà thôi .
Interior route thực hiện công việc các công việc hội tụ các routing-table trong cùng một autonomous system - nôm na là một hệ thống phức hớp mạng (interwan connection) có chung một quan hệ nào đó (một tập đpàn , công ty lớn , các nhà cung cấp dịch vụ) .Còn exterior thực hiện việcrouting giủa các autonomous system với nhau + các policy về sercurity .
một số vd : Interior : RIP v1 , RIP v2 , IGRP , OSPF , EIGRP , RIP (novell) , ANRM (MAC) , ..v.v...
Exterior : BGP4 , EGP .v.v.
Các interior Routing protocol có thể được phân thành 3 nhóm - do sử dụng các thuật giải khác nhau . 3 nhóm là Distance-vector (ripv1, ripv2 , igrp), link-state(ospf) , và hybrid (eigrp)
Trước hết , hảy xem qua khái niệm routing-table . Nó là một dạng database cần thiết để thực hiện công việc tìm đước nhanh nhất (path-determination) cho một packet khi đi vvào một internetwork . Routing table có thể có xây dựng thông qua nhiều các,có thể có được một cách tự động thông qua các routing protocol khác nhau , hay là được gán trực tiếp bởi các admin . Mục đích "tối thượng" của thao tác routing là làm sao tất cả các router của AS có được một routing-table đúng nhất , đồng nhất để việc routing-switching diển ra tốt . Routing luôn là vấn đề nhức đầu của các designer vì một chính sách routing kém sẻ dẩn đến toàn bộ mạng sẻ bị down .
Vậy 3 loại routing distance-vector , linkstate , và hybrid có gì khác.
trước tiên là
distance-vector : RIP , IGRP . Hoạt động theo nguyên tắt "hàng xóm" , nghỉa là mổi router sẻ gửi bảng routing-table của chính mình cho tất cả các router được nối trực tiếp với mình . Các router đó sau đo so sánh với bản routing-table mà mình hiện có và kiểm xem route của mình và route mới nhận được, route nào tốt hơn sẻ được cập nhất . Các routing-update sẻ được gởi theo định kỳ (30 giây với RIP , 60 giây đối với RIP-novell , 90 giây đối với IGRP) . Do đó , khi có sự thay đổi trong mạng , cácrouter sẻ biết được khúc mạng nào down liền.
Ưu điểm : Dể cấu hình . router không phải sử lý nhiều -->CPU và MEM còn rảnh để làm việc khác .
Tuy nhiên nhược điểm thì hơi bị nhiều :
Thứ nhất , hệ thống metric quá đơn giản (như rip chỉ là hop-count )
nên có thể sẩy ra việc con đường "tốt nhất" chưa phãi là tốt nhất (^-^) .
Thứ 2 : Do phải cập nhật định kỳ các routing-table , nên một lượng bandwidth đáng kể sẻ bị chiếm , làm trong thoughput sẻ mất đi (mặc dù mạng không gì thay đổi nhiều) .
Cuối cùng và trầm trọng nhất là do các Router hội tụ chậm , sẻ dẩn đến việc sai lệch trong bảng route-->Routing LOOP!!!!!! .
Link-state : Linkstate không gởi routing-update , mà chỉ gởi tình trạng [state] của các cái link trong linkstate-database của mình đi cho các router khác, để rồi tự mỗi router sẻ chạy giải thuật shortest path first (bởi vậy mới có OSPF - open shortest path first) , tự build bãng routing-table cho mình . Sau đó khi mạng đả hội tụ , link-state protocol sẻ không gởi update định kỳ như Distance-vector , mà chỉ gởi khi nào có một sự thay đổi nhất trong topology mạng (1 line bị down , cần sử dụng đường back-up)
Ưu điểm : Scalable : có thể thích nghi được với đa số hệ thống , cho phép người thiết kế có thễ thiết kế mạng linh hoạt , phản ứng nhanh với tình huống sảy ra.
Do không gởi interval-update , nên link state bảo đảm được băng thông cho các đưởng mạng .
Khuyết điểm : Do router phải sử lý nhiều , nên chiếm nhiều bộ nhớ lẩn CPU , -->tăng delay .
Một khuyết điểm khá ngộ nửa là : linkstate khá khó cấu hình để chạy tốt , những người làm việc có kinh nghiệm lâu thì mới cấu hình tốt được , do đó các kỳ thi cao cấp của Cisco chú trọng khá kỷ đến linkstate protocol .

CCNA TUTOR: CLI about Line


--------------------------------------------------------------------------------

híc, các bác cứ thế mải . Tui sẻ viết tiếp
Cisco-command

Cisco IOS là hệ điều hành mạng được load vào trong các thiết bị (Router , Switch) của cisco . Giao diện của cisco IOS cũng khá giống với hệ điều hành DOS , hay Linux . Giao diện chủ yếu của các bạn chính là CLI - Command line interface . Có nhiều version cũa IOS , thường được lưu dưới dạng một image file - với nhiều họRouter và Switch yếu như 25xx, 16xx, 6xx , 100xx , các file image được lưu dưới dạng nén - . Các file IOS lưu trong bộ nhớ flash , có thể là build-in trongRouter hoặc tồn tại dưới dạng Flash card .
Các thành phần bộ nhớ chính trong một Router là : Flash , nvram (là một loại ram không bị mất đi khi power off , dùng để lưu các config ) , RAM là môi trường làm việc chính , lưu các buffer và các cache .

Vậy có bao nhiêu các để config Router : Có 3 cách chính
COnsole cách đầu tiên, ccó quyền cao nhất và không cần cấu hình trước , luôn luôn có sẳn , mặc định sẻ không có quá trình authentication . Là cổng đầu tiên được sử dụng khi mới muaRouter về .
Cổng console được nối một cách đơn giản bằng một sợi dây roll-over , thông qua đầu đổi DB 9 , nối vào cổng com(******) của máy tính . Hầu hết các loại phần mềm terminal đơn giản đều có thể được sử dụng (hyperterminal-win98 ) . Chỉ việc cắm sợi dây vào port -console (giống như đúc cổngethernet , chỉ khác có chử console ^-^) . Bạn vẩn có thể cấu hình console để thực hiện authentication . Từ mode global configuration :
Router(config)#Line console 0
bạn sẻ nhảy vào line mode
Router(config-line)#Login [local]
Lệnh này bắt buộc Router authentication người vào . Nếu thêm đuôi local ,Router sẻ thực hiện authen với SAM của chính mình (sercurity account database gồm username và password )
Router(config)#password [******x]
(gán password cổng console Global)

Tip = một cách để ngăn cản hoàn toàn hacker lẩn người sử dung là :
Router(config)#line console 0
Router(config-line)#login
Router(config-line)#no password
Khi login vào bạn sẻ gặp câu : password required but not set và sẻ văng ra ngay.
--------------------------------------------------------------------------------
Cổng AUX : Tương tự như console , cổng AUX , thật sự là cổng Async n+1 (tức là Router dùng dial-up có 16 cổng Async thì AUX là cỗng Async thứ 17) có thể dùng để config Router từ xa mà không cần cấu hình đến layer 3 (IP) . Aux -auxilary được sử dụng kèm một modem và thông qua mạng pstn bình tường .
Cấu hình :
Router(config)#line aux 0 hoặc là line async n+1
Router(config-line)#login [local]
Router(config-line)#password
Sau đó ta sẻ cấu hình lớp physycal . Trước tiên là modem . Thật sự thì cấu hình Modem rất phức tạp , CCNA chỉ đề ra một câu lệnh để cấu hình modem thôi :
Router(config-line)#modem autoconfigure discovery
Dùng để tự Router nhận diện modem . Ta có thể cấu hình modem phức tạp và đa dạng hơn sử dụng chat-script và reversed-telnet . (để sau đi)
Router(config-line)#modem dialin
dùng để cho Router nhận các cuộc gọi vào .
Router(config-line)#speed [***x] (in bit per sec)
khỏi nói hén
Router(config-line)#databit (bit dùng để truyền data)
Router(config-line)#stopbit (dùng để check)
Router(config-line)#autohangup [x] (SeC)
thời gian ngắt nếu o có traffic
Router(config-line)#flowcontrol hardware/software/xon,xoff
dùng để thực hiển chức năng flowcontrol .

----------------------------------------------------------
Đường cuối cùng là qua mạng ip - telnét
1 Router có khả năng có đến 5 virtual terminal . bạn có thể telnet vào Router bằng config : telnet [router direct-connected ip]
Cấu hình
Router(config)#line vty 0 4
Router(config-line)#login [local]
Router(config-line)#password

Thảo luận về CCNA

Saturday, March 7, 2009

Cấu hình IP bằng Command Line

CẤU HÌNH IP BẰNG COMMAND LINE
I.Đặt IP và Gateway :
1).Đặt IP tĩnh.
Cú pháp : netsh interface ip add address local ip_moi SubnetMask
Ví dụ : netsh interface ip add address local 192.168.1.64 255.255.255.0

2).Đặt IP động (lấy từ DHCP Server)
Cú pháp : netsh interface ip set address Local dhcp

3).Đặt IP tĩnh cho máy có nhiều card mạng:

Cú pháp : netsh interface ip add address "tên card mạng cần cấu hình" ip_moi subnetmask
Ví dụ : netsh interface ip add address "Local Area Network 1" 192.168.1.10 255.255.255.0

4).Gateway :

Cú pháp : netsh interface ip add address local gateway=ip_modem gwmetric=number
Ví dụ : netsh interface ip add address local gateway=192.168.1.1 gwmetric=1

5).Đặt IP tĩnh và Gateway :

Cú pháp : netsh interface ip add address local ip_moi SubnetMask Gateway metric=number
Ví dụ : netsh interface ip add address local 192.168.1.100 255.255.255.0 192.168.1.1 1

II.Đặt DNS :
1).Đặt Primary DNS tĩnh.
Cú pháp : netsh interface ip add DNS local ip_isp
Ví dụ : netsh interface ip add dns local 203.113.131.1

2).Đặt Second,Third DNS tĩnh.
Cú pháp : netsh interface ip add DNS local ip_isp index=number
Ví dụ : netsh interface ip add dns local 203.113.131.2 index=2
netsh interface ip add dns local 203.131.188.1 index=3

3).Đặt DNS động.
Cú pháp : netsh interface ip set DNS local dhcp

III.Đặt WINS :
1).Đặt WINS tĩnh.
Cú pháp : netsh interface ip add WINS local ip_Wins
Ví dụ : netsh interface ip add wins local 192.168.1.100

2).Đặt WINS động.
Cú pháp : netsh interface ip set WINS local dhcp
Ví dụ : netsh interface ip set wins local dhcp

NIIT LongAn

Các lệnh Dos sử dụng trong LAN cơ bản

1.User
a.Tạo user :
Cú pháp :
net user ten_user pass /add
Ví dụ :
net user tichuot 123 /add

b.Xóa user :
Cú pháp :
net user ten_user /delete
Ví dụ :
net user tichuot /delete

c.Thay đổi password của user :
Cú pháp : (không cần nhập pass cũ)
net user ten_user pass_moi
Ví dụ :
net user tichuot 123

2.Group
a.Tạo group :
Cú pháp :
net localgroup ten_group /add
Ví dụ :
net localgroup sv /add

b.Xóa group :
Cú pháp :
net localgroup ten_group /delete
Ví dụ :
net localgroup sv /delete

c.Thêm thành viên vào group :
Cú pháp :
net localgroup ten_group ten_thanh_vien /add
Ví dụ :
net localgroup administrators tichuot /add

d.Xoá thành viên khỏi group :
Cú pháp :
net localgroup ten_group ten_thanh_vien /delete
Ví dụ :
net localgroup administrators tichuot /delete

3.Net View
Công dụng : xem tài nguyên đã share trên máy mình hoặc máy nào đó trong mạng
Cú pháp :
Net View \\TenMay
Ví dụ :
Net View \\NIIT201

4.Net Share
Công dụng : share một folder, ổ đĩa
a.Share:
Cú pháp :
Net share ten_share=drive:\path
Ví dụ :ta share folder c:\abc
Net share abc=c:\abc
(người ta thường đặt tên share cùng với tên folder cho dễ quản lý thui)

b.Share ẩn:
Cú pháp :
Net share ten_share$=drive:\path
Ví dụ :ta share ẩn folder c:\abc
Net share abc$=c:\abc

c.Xóa share:
Cú pháp :
Net share ten_share /delete
Ví dụ :ta xóa share folder c:\abc
Net share abc /delete (xóa share thường)
Net share abc$ /delete (xóa share ẩn)

5.Net send
Công dụng : gởi một tin nhắn tức thì đến máy nào đó, hoặc tất cả các máy
Cú pháp :
Net Send ten_may_nhan_thong_diep Noi_Dung
Ví dụ :
Net Send NIIT210 Chieu nay đi nhau nha.
Net Send * Chieu nay minh di lien hoan (* : gởi đến tất cả các máy)
(dịch vụ Messenger phải được chạy trước nha, phải chạy ở cả máy gởi và máy nhận)

6.WhoAmi
Công dụng : xem tên user đang đăng nhập, thuộc groups nào
Cú pháp :
WhAmi [/User | /Groups]
Ví dụ :
WhoAmi /User
WhoAmi /Groups

7.Ping
Công dụng : Phân tích sự kết nối đến một máy từ xa trên mạng. Lệnh này chỉ có hiệu lực khi máy bạn đã cài giao thức TCP/IP
Cú pháp :
ping [-t] Ten_May|IP
-t dùng lệnh ping liên tục cho đến khi bạn tự ngắt nó bằng cách đóng cửa sổ lệnh.
Ví dụ :
Ping NIIT210
Ping 192.168.1.30

8.Ipconfig
Công dụng : Hiển thị tất cả các giá trị đã đựơc thiết lập cho mạng dùng giao thức TCP/IP hiện tại trên máy bạn. Lệnh này được dùng phổ biến trên hệ thống dùng giao thức cấp phát địa chỉ động (DHCP) để giúp người dùng kiểm tra cấu hình hiện tại mà DHCP đang thiếp lâp
Cú pháp :
ipconfig [/all | /renew [adapter] | /release [adapter]]
/all hiển thị tất cả thông tin có thể. Nếu không có tham số này, ipconfig chỉ hiển thị địa chỉ IP, mặc nạ mạng (subnet mask), và cổng nối mặc định (default getway) cho mỗi card mạng gắn trên máy.
/renew [adapter] yêu cầu DHCP cấp phát địa chỉ mới.
/release [adapter] thoát khỏi các thiết lập của DHCP. Thiết lập này không có tác dụng trên hệ thống cụ bộ, nó chỉ có tác dụng trên máy khách dùng DHCP.
Ví dụ :
Ipconfig
Ipconfig /all
Ví dụ xin cấp IP mới (phải gõ đủ 2 lệnh sau):
Ipconfig /release
Ipconfig /renew

9.Net Session
Công dụng : Hiển thị hoặc ngắt một phiên kết làm việc giữa máy hiện tại (đang ngồi sử dụng) với máy khác đang kết nối đến. Ví dụ: bạn share 1 folder nào đó, người khác truy trập tức là có một session kết nối giữa máy mình đến máy khác.
Cú pháp :
net session [\\computername] [/delete]
\\computername hiển thị tên máy bạn muốn liệt kê thông tin hoặc ngắt phiên kết nối.
/delete ngắt kết nối với máy đã chỉ định. Nếu không có tên máy thì tất cả các kết nối với máy cục bộ đều bị ngắt.
Ví dụ :
+Xem tất cả kết nối đến máy mình
Net session
+Xem kết nối của một máy đến máy mình
Net session \\192.168.1.65
+Xóa một kết nối đến máy mình
Net session \\192.168.1.65 /delete

Niitlongan.com


Wednesday, March 4, 2009

LIVE to FIGHT

Cuộc sống là chiến đấu

Bạn sẽ làm gì khi những người bạn yêu thương nhất không còn nữa? Bạn sẽ làm gì khi bị mất hết tất cả? Bạn sẽ làm gì khi toàn thân đau đớn, thể xác và tâm hồn? Bạn sẽ làm gì khi không còn lấy ai ở bên mình? Bạn sẽ làm gì khi bị dồn đến bước đường cùng? Bạn sẽ làm gì khi mà gần như sự khát khao hạnh phúc và niềm tin tưởng vào lẽ phải hầu như không còn nữa?

Câu trả lời chỉ có thể là: Bạn phải tiếp tục sống. Sống mà chiến đấu!



Cuộc sống là chiến đấu. Bất cứ lúc nào trong cuộc đời chúng ta, cũng luôn còn một ai đó, luôn còn một thứ gì đó để mà chiến đấu. Hãy chiến đấu với cô độc, để lại có tình yêu! Hãy chiến đấu với khổ đau, để lại có hạnh phúc! Hãy chiến đấu với thất bại, để lại có thành công! Hãy chiến đấu với thất vọng, để lại có niềm tin! Hãy chiến đấu với chính mình, để mà lớn thêm…

Trích từ Blog Tuanxudoai

Saturday, February 28, 2009

Tất cả các lệnh cấu hình trong CCNA

Phần 1. Routing - Định Tuyến (Các giao thức phức tạp)
OSPF.


Note: Tất cả những router có cùng area phải cấu hình giống nhau tất cả các thông số thì khu vực đó mới hoạt động đúng chức năng được.

1. Cấu hình cơ bản

Router(config)#router ospf process ID
Router(config-router)#network Network_number Wildcard_mask area_ID

2. Cấu hình priority ở các interface để bầu DR và BDR

Priority càng lớn thì khả năng được bầu làm DR càng cao, ngược với bầu Root brige của Switch, càng nhỏ thì lại càng được bầu.

Router(config)#interface fastethernet 0/0
Router(config-int)#ip ospf priority 55

Sau khi cấu hình xong priority có thể kiểm tra bằng lệnh.

Router# show ip ospf interface f0/0

3. Chỉnh sửa lại OSPF cost metric trong mỗi interface

Cost càng nhỏ thì tuyến đó càng được coi là best path

Router(config-int)#ip ospf cost 1

4.Cấu hình OSPF Authentication ở các interface và áp dùng vào router

Authentication key được hiểu như là password để các router trong cùng một vùng chia sẻ với nhau.

a.Cấu hình authentication đơn giản

Router(config-if)#ip ospf authentication-key password
Router(config-router)#area area number authentication

b.Cấu hình authentication theo dạng mã hoá, bảo mật cao.

Router(config-if)ip ospf message-digest-key key ID md5 encryption-type key
Router(config-router)#area area ID authentication message-digest

5.Cấu hình OSPF timer trong các interface

Router(config-if)ip ospf hello-interval timer
Router(config-if)ip ospf dead-interval timer

6.Cấu hình quảng bá một tuyến mặc định trong OSPF

Router(config-router)#default-information originate

7.Quảng bà một tuyến khác (không phải là default)

Router(config-router)#redistribute protocols subnets

8.Các lệnh show dùng để kiểm tra cấu hình OSPF

show ip protocol
show ip route
show ip ospf
show ip ospf interface
show ip ospf database
show ip ospf neighbor detail
clear ip route *
debug ip ospf events
debug ip ospf adj

EIGRP

1.Cấu hình cơ bản.

Router(config)#router eigrp autonomous number
Router(config-router)#network network number
Router(config-router)#eigpr log-neighbor-changes (Không có cũng được)
Router(config-router)#no auto-summary

2.Thay đổi băng thông và tự tổng hợp tuyến trong interface

Router(config-if)#bandwidth kilobits
Router(config-if)#ip summary-address protocol AS network number subnets mask

3.Cân bằng tải trong EIGRP

Router(config-router)#variance number

4.Quảng bá default route

Cách 1:
Router(config)#ip route 0.0.0.0 0.0.0.0 [interface/nexthop]
Router(config)#redistribute static

Cách 2:
Router(config)#ip default-network network number

Cách 3:
Router(config-if)#ip summary-network eigrp AS number 0.0.0.0 0.0.0.0

5.Quảng bá các tuyến khác trong EIGRP (không phải là default)

Router(config-router)#redistribute protocol process ID metrics k1 k2 k3 k4 k5
Ex: Router(config-router)#redistribute ospf metrics 100 100 100 100 100

6.Chia sẻ traffic trong EIGRP

Router(config-router)#traffic share {balanced/min}

7.Các lệnh kiểm tra cấu hình EIGRP

- show ip eigrp neighbor
- show ip eigrp interface
- show ip eigrp topology
- show ip eigrp traffic
- debug eigrp fsm
- debug eigrp packet

Phần 2. Switching - Chuyển mạch

1.Cấu hình cơ bản chung cho một Switch

Reset tất cả cấu hình của Switch và reload lại.

Switch#delete flash:vlan.dat
Switch#erase startup-config
Switch#reload

2.Cấu hình về Security và management

Switch(config)#hostname tên switch
Switch(config)#line console 0
Switch(config-line)#password mật khẩu
Switch(config-line)#login

Switch(config)#line vty 0 4
Switch(config-line)#pass mật khẩu
Switch(config-line)#login

3.Thiết lập địa chỉ IP và default gateway cho Switch

Switch(config)#interface vlan1
Switch(config-int)#ip address địa chỉ subnetmask
Switch(config)#ip default-gateway địa chỉ

4.Thiết lập tốc độ và duplex của cổng

Switch(config-int)#speed tốc độ
Switch(config-int)#duplex full

5.Thiết lập dịch vụ HTTP và cổng

Switch(config)#ip http server
Switch(config)#ip http port 80

6.Thiết lập, quản lý địa chỉ MAC

Switch(config)#mac-address-table static địa chỉ MAC interface fastethernet số vlan
Switch#show mac-address-table
Switch#clear mac-address-table

7.Cấu hình bảo mật cho cổng

Switch(config-if)#switchport mode acess
Switch(config-if)#switchport port-security

Cấu hình Static: Switch(config-if)#switchport port-security mac-address địa chỉ Mac

Cấu hình Sticky: Switch(config-if)#switchport port-security mac-address sticky (thông dụng nhất)

Switch(config-if)#switchport port-security maximum value
Switch(config-if)#switchport port-security violation shutdown

8.Tạo Vlan

Cách 1.

Switch#vlan database
Switch(vlan)#vlan number

Cách 2. Khi gán các cổng vào vlan, dù vlan chưa tồn tại nhưng Switch vẫn tự tạo.

Switch(config)#interface fastethernet 0/0
Switch(config-int)#switchport access vlan vlan-id

Muốn xoá vlan ta làm như sau:

Switch(config-if)#no switchport access vlan vlan-id
Switch#clear vlan vlan_number (xoá toàn bộ vlan )

9.Gán nhiều cổng vào trong vlan cùng một lúc, cấu hình Range

Đối với dãy cổng không liên tục.
Switch(config)#interface range cổng 1 , cổng 2 , cổng 3

Đối với một dãy liên tục.
Switch(config)#interface range cổng 1-n
Switch(config-range)#switchport access vlan vlan-id


Ví dụ:
Switch(config)#interface range f0/0 , f0/2 , f0/4
Switch(config)#interface range f0/0-10
Switch(config-range)#switchport access vlan 10

10.Cấu hình Trunk

Switch(config-if)#switchport mode trunk
Switch(config-if)#switchpor trunk encapsulation encapsulation-type
Switch#show trunk

11.Cấu hình VTP

Switch#vlan database
Switch(vlan)#vtp v2-mode
Switch(vlan)#vtp domain tên domain
Switch(vlan)#vtp {server/client/transperant}
Switch(vlan)#vtp password password (Tạo pass cho domain)
Switch#show vtp status

12.Cấu hình Inter-Vlan trên Router

Router(config)#interface fastethernet 0/0.1
Router(config-subif)#encapsulation type
Router(config-subif)#ip address địa chỉ subnetmask

Phần 3. Access-list và các cấu hình liên quan.
1.Nhắc lại về lý thuyết.

Có 2 loại access-list.

- Loại thứ nhất: Standard IP Access-list chỉ lọc dữ liệu dựa vào địa chỉ IP nguồn. Range của loại này là từ 1à 99. Nên được áp dụng với cổng gần đích nhất.

- Loại thứ hai: Extended IP Access-list lọc dữ liệu dựa vào
o Địa chỉ IP nguồn
o Địa chỉ IP đích
o Giao thức (TCP, UDP)
o Số cổng (HTTP, Telnet…)
o Và các thông số khác như Windcard mask
Range của loại này là từ 100 à199. Nên được áp dụng với cổng gần nguồn nhất.

Hai bước để cấu hình Access-list
- Bước 1: Tạo access-list trong chế độ cấu hình config.
- Bước 2: Áp dụng access-list cho từng cổng tuỳ theo yêu cầu ở chế độ cấu hình (config-if)

Lưu ý:
- Mặc định của tất cả Access-list là deny all, vì vậy trong tất cả các access-list tối thiểu phải có 1 lệnh permit. Nếu trong access-list có cả permit và deny thì nên để các dòng lệnh permit bên trên.
- Về hướng của access-list (In/Out) khi áp dụng vào cổng có thể hiểu đơn giản là: In là từ host, Out là tới host hay In vào trong Router, còn Out là ra khỏi Router.
- Đối với IN router kiểm tra gói tin trước khi nó được đưa tới bảng xử lý. Đối vơi OUT, router kiểm tra gói tin sau khi nó vào bảng xử lý.
- Windcard mask được tính bằng công thức:
WM = 255.255.255.255 – Subnet mask (Áp dụng cho cả Classful và Classless addreess)
- 0.0.0.0 255.255.255.255 = any.
- Ip address 0.0.0.0 = host ip address (chỉ định từng host một )

2.Cấu hình Standard Access-list (Ví dụ)

Router(config)#access-list 1 deny 172.16.0.0 0.0.255.255
Router(config)#access-list 1 permit any
Router(config)#interface fastethernet 0/0
Router(config-in)#ip access-group in

3.Cấu hình Extended Access-list (Ví dụ)

Router(config)#access-list 101 deny tcp 172.16.0.0 0.0.255.255 host 192.168.1.1 eq telnet
Router(config)#access-list 101 deny tcp 172.16.0.0 0.0.255.255 host 192.168.1.2 eq ftp
Router(config)#access-list 101 permit any any
Router(config)#interface fastethernet 0/0
Router(config-int)#ip access-group out

4.Cấu hình named ACL thay cho các số hiệu.

Router(config)#ip access-list extended server-access (tên của access-list)
Router(config-ext-nacl)#permit tcp any host 192.168.1.3 eq telnet
Router(config)#interface fastethernet 0/0
Router(config-int)#ip access-group server-access out

5.Permit hoặc Deny Telnet sử dụng Standard Acl (Ví dụ)

Router(config)#access-list 2 permit 172.16.0.0 0.0.255.255
Router(config)#access-list 2 deny any
Router(config)#line vty 0 4
Router(config-line)#password cisco
Router(config-line)#login
Router(config-line)#ip access-class 2 in

6.Xoá và kiểm tra Access-list

Muốn xoá thì ta dùng lệnh sau:
Router(config)# no ip access-list số hiệu

Kiểm tra Acl ta dùng các lệnh sau:

- show access-list
- show running-config
- show ip interface

Phần 4. NAT – PPP – Frame Relay
I.Cấu hình NAT
  • Cấu hình Static NAT
Cấu hình NAT trong chế độ Router(config). Các lệnh như sau

Router(config)#ip nat inside source static [inside local address] [inside global address]
Ví dụ:
R(config)#ip nat inside source statice 10.0.0.1 202.103.2.1 (Địa chỉ 10.10.0.1 sẽ được chuyển thành 202.103.2.1 khi đi ra khỏi Router)

Sau khi cấu hình xong phải áp dụng vào cổng in và cổng out, trong ví dụ dưới đây, cổng Ethernet là công in, còn cổng Serial là cổng out

Router(config)#interface ethernet 0
Router(config-if)#ip nat inside

Router(config)#interface serial 0
Router(config-if)#ip nat outside
  • Cấu hình Dynamic NAT
Router(config)#ip nat pool [ tên pool] [A.B.C.D A1.B1.C1.D1] netmask [mặt nạ]
Router(config)#ip nat inside source list [số hiệu ACL] pool [tên pool]
Router(config)#access-list [số hiệu ACL] permit A.B.C.D windcard masks

Ví dụ:
R(config)#ip nat pool nat-pool1 179.9.8.80 179.9.8.95 netmask 255.255.255.0
R(config)#ip nat inside source list 1 pool nat-pool1
R(config)#access-list 1 permit 10.1.0.0 0.0.0.255

Sau đó áp vào cổng In Out như Static NAT

Note: Giải địa chỉ inside local address và inside global address phải nằm trong giải cho phép của ACL
  • Cấu hình PAT overload
    • Cấu hình overload với 1 địa chỉ IP cụ thể.
Router(config)#ip nat pool [tên pool] [ip global inside] [subnet mask]
Router(config)#ip nat inside source list [tên số hiệu ACL] pool [tên pool] overload
Router(config)#access-list [số hiệu] permit [địa chỉ] [windcard mask]

Ví dụ:
R(config)#access-list 2 permit 10.0.0.0 0.0.0.255
R(config)#ip nat pool nat-pool2 179.9.8.20 255.255.255.240
R(config)#ip nat inside source list 2 nat-pool2 overload
    • Cấu hình overload dùng địa chỉ của cổng ra.(Thường xuyên được dung hơn là trường hợp trên)
Router(config)#ip nat inside source list [tên số hiệu ACL] interface [cổng ra] overload
Router(config)#access-list [số hiệu] permit [địa chỉ] [windcard mask]

Ví dụ:
R(config)#ip nat inside source list 3 interface serial 0 overload
R(config)#access-list 3 permit 10.0.0.0 0.0.0.255
  • Các lệnh Clear NAT/PAT
Lệnh xóa tất cả dynamic nat trên toàn bộ các interface.
Router#clear ip nat translation *

Lệnh xóa các single nat trên từng interface
Router#clear ip nat translation [inside/outside] [global ip - local ip]

Lệnh xóa các extended nat trên từng interface
Router#clear ip nat translation protocol [inside/outside] [global ip - global port – local ip – local port]
  • Kiểm tra và Debug các NAT và PAT
Router#show ip nat translation
Router#show ip nat statics
Router#debug ip nat
  • Cấu hình DHCP
Router(config)#ip dhcp excluded-address ip-address (end-ip-address)
Router(config)#ip dhcp pool [tên pool]
Router(dhcp-config)#network addess subnetmask
Router(dhcp-config)#default-router address
Router(dhcp-config)#dns-server address
Router(dhcp-config)#netbios-name-server address
Router(dhcp-config)#domain-name tên domain
Router(dhcp-config)#lease ngày/giờ/phút
  • Kiểm tra và troubleshoot cấu hình DHCP
Router#show ip dhcp binding
Router#debug ip dhcp server events
  • Trong trường hợp DHCP server không nằm cùng mạng với host
Note: khi DHCP server không cùng mạng với host thì ta phải dùng lệnh ip helper-address giúp host đến DHCP server.

Router(config)#interface [cổng nằm cùng mạng với host]
Router(config-if)#ip helper-address [địa chỉ của DHCP server]

Note: Trong trường hợp muốn gói tin của host được broadcast ở mạng chứa DHCP thì ta dùng thêm lệnh ip directed-broadcast ở cổng cùng mạng với DHCP server

Router(config)#interface [cổng nằm cùng mạng với dhcp]
Router(config-ì)#ip directed-broadcast

II. Cấu hình PPP

1. Cấu hình cơ bản:

R(config)#interface serial 0/0
R(config-if)#encapsulation ppp

2. Cấu hình PAP

Cấu hình PAP không yêu cầu hai Router giống nhau về password nhưng CHAP thì phải có.

(Cấu hình trên RA)
R(config)#host RA
RA(config)#username RB password 321
RA(config-if)#encapsulation ppp
RA(config-if)#ppp authentication pap
RA(config-if)#ppp pap sent-username RA password 123

(Cấu hình trên RB)
R(config)#host RB
RB(config)#username RA password 123
RB(config-if)#encapsulation ppp
RB(config-if)#ppp authentication pap
RB(config-if)#ppp pap sent-username RB password 321

3. Cấu hình CHAP. (yêu cầu phải giống nhau về password)

(Cấu hình trên RA)
R(config)#host RA
RA(config)#username RB password 123
RA(config-if)encapsulation ppp
RA(config-if)ppp authentication chap

(Cấu hình trên RB)

R(config)#host RB
RB(config)#username RA password 123
RB(config-if)encapsulation ppp
RB(config-if)ppp authentication chap


4. Các cấu hình khác của PPP

a. Cấu hình Multilink

R(config-if)#encapsulation ppp
R(config-if)#ppp multilink

b. Cấu hình Compression

R(config-if)#encapsulation ppp
R(config-if)#compress [predictor/stac/mppc]

c. Cấu hình Error detection

R(config-if)#encapsulation ppp
R(config-if)#ppp quality [phần trăm]

5. Các lệnh kiểm tra cấu hình PPP

R#show interface (xem encapsulation)
R#debug ppp negotiation (Xem quá trình kết nối giữa 2 node)
R#debug ppp authentication (Xem quá trình xác thực giữa 2 node)


III. Cấu hình Frame-Relay

1. Cấu hình đơn giản

R(config-if)#encapsulation frame-relay {ciso| ietf} (mặc định là cisco)

Khi lệnh này được thực thi, DLCI sẽ được Inverse ARP tự động map, người dùng không cần phải làm gì cả.

* Nhưng Inverse ARP không làm việc với các kết nối Hub-and-Spoke

2. Cấu hình Frame-relay static map

R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#frame-relay map ip remote–ip-address local-dlci [broadcast] [cisco| ietf]
(ip address trong dòng lệnh trên chỉ lấy làm minh họa bởi nó rất phổ biến, chính xác phải là remote–protocol–address)
Broadcast trong câu lệnh trên có 2 chức năng:
§ Forward broadcast khi multicast không được khởi động.
§ Đơn giản hóa cấu hình OSPF cho mạng nonbroadcast sử dụng FRelay.
Ví dụ:

R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#frame-relay map ip 192.168.2.1 100 broadcast


3. Cấu hình FR trong mạng None Broadcast MutiAccess

- Trong mạng Broadcast khi 1 máy tính truyền frame tất cả các node lắng nghe frame nhưng chỉ có node cần nhận mới nhận được.
- Trong mạng None Broadcast khi 1 máy tính truyền frame thì chỉ có node cần nhận mới lắng nghe và nhận được frame đó, các node còn lại thì không. Frame được truyền qua 1 virtual Circuit hoặc 1 thiết bị chuyển mạch.
- Star topology có thể được coi như là 1 mạng Hub and Spoke.

4. Giải quyết vấn đề với Routing Updates mà không disable Split Horizal

Giải pháp dùng Sub-interface

R(config)#interface s0/0
R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)interface s0/0.1 [multipoint| point-to-point]

- point-to-point: Mỗi subinterface có subnet riêng của mình. Broadcast và Split horizol không là vấn đề.
- Multi-point: Tất cả các subinterface liên quan phải cùng chung 1 subnet và như vậy Broadcast và Split horizol sẽ có vấn đề.

Ví dụ:
(Point-to-point)
R(config)#interface s0/0
R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#interface s0/0.1 point-to-point
R(config-subif)#frame-relay interface-dlci 18

(Multipoint)
R(config)#interface s0/0
R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#interface s0/0.2 multipoint
R(config-subif)#frame-relay interface-dlci 19
R(config-subif)#frame-relay interface-dlci 20

5. Cấu hình trên Frame-relay Switching (ví dụ)

R(config)#frame-relay switching
R(config)#interface s0/0
R(config-if)#encapsulation frame-relay
R(config-if)#frame-relay intf-type dce
R(config-if)#frame-relay route 103interface serial 0/1 301

Tuesday, February 17, 2009

Công nghệ WiMAX là gì

“WiMAX” là từ viết tắt của Worldwide Interoperability for Microwave Access – Khả năng tương tác toàn cầu với truy nhập vi ba.

Công nghệ WiMAX là gì?
WiMAX là một công nghệ dựa trên các chuẩn, cho phép truy cập băng rộng vô tuyến đến đầu cuối (last mile) như một phương thức thay thế cho cáp và DSL. WiMAX cho phép kết nối băng rộng vô tuyến cố định, nomadic (người sử dụng có thể di chuyển nhưng cố định trong lúc kết nối), mang xách được (người sử dụng có thể di chuyển với tốc độ đi bộ) và cuối cùng là di động mà không cần thiết ở trong Tầm nhìn thẳng (Line-of-Sight) trực tiếp tới một trạm gốc. Trong một bán kính của một cell điển hình là từ 3 đến 10km, các hệ thống đã được Diễn đàn WiMAX (WiMAX Forum) chứng nhận sẽ có công suất lên tới 40Mbit/s mỗi kênh cho các ứng dụng truy cập cố định và mang xách được. Điều này có nghĩa là đủ băng thông để đồng thời hỗ trợ hàng trăm doanh nghiệp với kết nối tốc độ T-1 và hàng ngàn hộ dân với kết nối tốc độ DSL. Công suất cho mạng di động khi triển khai sẽ là 15Mbit/s trong phạm vi bán kính của một cell điển hình lên tới 3km.


Diễn đàn WiMAX là gì?
Diễn đàn WiMAX là một tổ chức của các nhà khai thác và các công ty thiết bị và cấu kiện truyền thông hàng đầu. Mục tiêu của Diễn đàn WiMAX là thúc đẩy và chứng nhận khả năng tương thích của các thiết bị truy cập vô tuyến băng rộng tuân thủ chuẩn 802.16 của IEEE và các chuẩn HiperMAN của ETSI. Diễn đàn WiMAX được thành lập để dỡ bỏ các rào cản tiến tới việc chấp nhận rộng rãi công nghệ truy cập vô tuyến băng rộng BWA (Broadband Wireless Access), vì riêng một chuẩn thì không đủ để khuyến khích việc chấp nhận rộng rãi một công nghệ. Theo mục tiêu này, Diễn đàn đã hợp tác chặt chẽ với các nhà cung cấp và các cơ quan quản lý để đảm bảo các hệ thống đượcDiễn đàn phê chuẩn đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và của các chính phủ.
Thiết bị tại nhà của khách hàng (CPE) sẽ như thế nào và giá sẽ bao nhiêu?
Thế hệ CPE do Diễn đàn WiMAX chứng nhận đầu tiên sẽ là các trạm thuê bao được lắp đặt ngoài trời giống với các chảo vệ tinh nhỏ đã có cuối năm ngoái và đầu năm nay và giá khoảng 350USD mỗi bộ. Thế hệ CPE thứ 2 có thể là những modem có thể tự lắp trong nhà tương tự như modem cáp và DSL và có giá khoảng 250USD mỗi bộ và sẽ có mặt trên thị trường trong năm nay. Thế hệ CPE thứ 3 sẽ được tích hợp vào các laptop và các thiết bị xách tay khác, ước tính có giá 100USD và sẽ xuất hiện trong năm 2006 – 2007.

WiMAX có cạnh tranh với Wi-Fi?
WiMAX và Wi-Fi sẽ cùng tồn tại và trở thành những công nghệ bổ sung ngày càng lớn cho cácứng dụng riêng. Đặc trưng của WiMAX là không thay thế Wi-Fi. Hơn thế WiMAX bổ sung cho Wi-Fi bằng cách mở rộng phạm vi của Wi-Fi và mang lại những thực tế của người sử dụng "kiểu Wi-Fi" trên một quy mô địa lý rộng hơn. Công nghệ Wi-Fi được thiết kế và tối ưu cho các mạng nội bộ (LAN), trong khi WiMAX được thiết kế và tối ưu cho các mạng thành phố (MAN). Trong khoảng thời gian từ 2006 - 2008, hy vọng cả 802.16 và 802.11 sẽ xuất hiện trong các thiết bị người sử dụng từ laptop tới các PDA, cả 2 chuẩn này cho phép kết nối vô tuyến trực tiếp tới người sử dụng - tại gia đình, trong văn phòng và khi đang di chuyển.

Những ứng dụng nào dành cho công nghệ WiMAX?
Công nghệ WiMAX là giải pháp cho nhiều loại ứng dụng băng rộng tốc độ cao cùng thời điểm với khoảng cách xa và cho phép các nhà khai thác dịch vụ hội tụ tất cả trên mạng IP để cung cấp các dịch vụ "3 cung": dữ liệu, thoại và video.
WiMAX với sự hỗ trợ QoS, khả năng vươn dài và công suất dữ liệu cao được dành cho các ứng dụng truy cập băng rộng cố định ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, nhất là khikhoảng cách là quá lớn đối với DS: và cáp cũng như cho các khu vực thành thị ở các nước đang phát triển. Những ứng dụng cho hộ dân gồm có Internet tốc độ cao, thoại qua IP, video luồng/chơi game trực tuyến cùng với các ứng dụng cộng thêm cho doanh nghiệp như hội nghị video và giám sát video, mạng riêng ảo bảo mật (yêu cầu an ninh cao). Công nghệ WiMAX cho phép bao trùm các ứng dụng với yêu cầu băng thông rộng hơn.
WiMAX cũng cho phép các ứng dụng truy cập xách tay, với sự hợp nhất trong các máy tínhxách tay và PDA, cho phép các khu vực nội thị và thành phổ trở thành những "khu vực diện rộng" nghĩa là có thể truy cập vô tuyến băng rộng ngoài trời. Do vậy, WiMAX là một công nghệ bổ sung bình thường cho các mạng di động vì cung cấp băng thông lớn hơn và cho các mạng Wi-Fi nhờ cung cấp kết nối băng rộng ở các khu vực lớn hơn.

About Me

My photo
Định Tường, Yên Định, Vietnam
KakalosVinh45

Followers